Ông Đào Duy Từ được một người Bình Định tiến cử với chúa Nguyễn, làm nên sự nghiệp hiển hách, lưu danh hậu thế

 Dưới thời chúa Nguyễn, Trần Đức Hòa (người ở xã Bồ Đề, huyện Bồng Sơn, phủ Quy Nhơn; nay là thôn Hy Văn, xã Hoài Sơn, TX Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định) là một vị quan tài giỏi; đặc biệt, ông là người đã tiến cử với chúa Nguyễn nhà chính trị, quân sự, danh nhân kiệt xuất Đào Duy Từ.

Hiện nay, trong khối Mộc bản triều Nguyễn - Di sản Tư liệu thế giới, còn lưu giữ nhiều ván khắc ghi chép về thân thế, sự nghiệp và hành trạng của Trần Đức Hòa, xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Mộc bản sách Đại Nam liệt truyện tiền biên, quyển 3, mặt khắc 9 ghi về gia thế của ông như sau: “Trần Đức Hòa người ở huyện Bồng Sơn, Bình Định. Ông nội là Trần Ngọc Chính, làm quan nhà Lê, được tặng phong Vinh lộc đại phu. 


Cha là Trần Ngọc Phẩn, cũng làm quan nhà Lê, đến chức Phó tướng dinh Quảng Nam. Trần Đức Hòa là người hào hùng cao cả, vì là con nhà tướng, ban đầu được ấm thụ làm Hoằng tín đại phu rồi thăng Cẩm y vệ Đô chỉ huy sứ thự vệ sự. Vì có quân công, Đức Hòa được phong làm Thám lý Quy Nhơn, Cống Quận công”.


Năm Nhâm Dần (1602), Trần Đức Hòa vào yết kiến, chúa Nguyễn Hoàng khen ông là người cung thuận rồi hậu đãi cho về. Đến khi chúa Nguyễn Phúc Nguyên nối ngôi, Trần Đức Hòa thường được mời vào phủ để bàn việc quân chính. 


Ông được chúa tin yêu, thường gọi với cái tên thân mật là “nghĩa đệ”. Không chỉ được chúa trọng dụng, Trần Đức Hòa còn được nhân dân yêu mến. Trong thời gian nhậm chức Khám lý phủ Quy Nhơn, ông đã có công giữ yên trấn lỵ, tích trữ lương thực theo quy định. 


Mộc bản sách Đại Nam liệt truyện tiền biên, quyển 3, mặt khắc 9 ghi chép về gia thế của Trần Đức Hòa. Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV

Trần Đức Hòa khuyến khích nhân dân khẩn hoang lập ấp, cho dân làm ăn trên đất hoang đã thành điền, sau 10 năm mới phải nộp thuế. Riêng với phần ruộng đất của mình, Trần Đức Hòa cũng cho dân làm, đóng địa tô thấp.

Không chỉ là người tài ba trong việc quân cơ, Trần Đức Hòa còn là người tinh anh, sáng suốt trong việc nhận diện nhân tài. Ngay khi gặp Đào Duy Từ, Trần Đức Hòa đã nhìn thấy dưới lớp vỏ bần hàn là một kẻ sĩ có tài trí phi thường, có thể giúp chúa Nguyễn làm nên việc lớn. Vì vậy, Trần Đức Hòa đã mời Đào Duy Từ về ở nhà mình và đem con gái gả cho.

Mộc bản sách Đại Nam thực lục tiền biên, quyển 2, mặt khắc 8, 9 ghi lại câu chuyện này: “Nghe tin Khám lý Hoài Nhơn Trần Đức Hòa là người có mưu trí, được chúa tin dùng, Đào Duy Từ bèn vào Hoài Nhơn, thác làm người ở, chăn trâu cho phú ông ở xã Tùng Châu. 


Phú ông thấy người biết rộng nghe nhiều, nói với Đức Hòa. Đức Hòa nói chuyện với Đào Duy Từ, thấy không điều gì là không thông suốt, rất quý trọng, đem con gái gả cho. Duy Từ từng ngâm bài Ngọa Long cương để ví mình với Khổng Minh. Đức Hòa thấy thế nói rằng: “Đào Duy Từ là Ngọa Long đời nay chăng”.

Năm Đinh Mão (1627), Trần Đức Hòa tiến cử Đào Duy Từ với chúa Nguyễn Phúc Nguyên. Mộc bản sách Đại Nam thực lục tiền biên, quyển 2, mặt khắc 12 ghi: “... 

Đức Hòa ung dung lấy bài Ngọa Long cương ngâm từ trong tay áo ra tiến, nói rằng: “Bài này do thầy dạy học ở nhà tôi là Đào Duy Từ làm”. Chúa xem thấy lạ, giục sai đi mời đến gặp. Sau mấy ngày, Đức Hòa cùng Duy Từ đến ra mắt. Lúc ấy, chúa mặc áo trắng đứng ở cửa nách chờ. Duy Từ nhìn thấy, đứng lại không đi. Chúa tức thì áo mũ chỉnh tề, ra mời vào. 

Duy Từ rảo bước vào lạy, cùng nói chuyện. Chúa rất vui lòng nói: “Khanh sao đến muộn thế?”. Tức thì trao cho chức Nha úy nội tán, tước Lộc khê hầu, trông coi việc quân cơ trong ngoài và tham lý quốc chính. Chúa từng mời vào trong bàn bạc. Duy Từ bày tỏ hết những điều uẩn khúc trong lòng, điều gì biết đều nói hết cả. Chúa cho Đức Hòa là biết người, bèn trọng thưởng cho”.

Lộ Ma vốn là pháp trường hành quyết tử tù thời nhà Nguyễn nay là đường nào ở TP Mỹ Tho của Tiền Giang?

Lộ Ma vốn là pháp trường hành quyết tử tù thời nhà Nguyễn nay là đường nào ở TP Mỹ Tho của Tiền Giang?

Quả thật, Trần Đức Hòa đã tiến cử lên phủ chúa một con người tài ba hiếm có, giúp chúa Nguyễn xưng vương định bá ở Đàng Trong. Quả nhiên về sau, Đào Duy Từ trở thành người đứng đầu trong các công thần.

Trần Đức Hòa mất vào thời điểm nào, không thấy Mộc bản triều Nguyễn ghi chép, chỉ biết rằng sau khi mất, ông được phong tặng phúc thần, dân làng Bồ Đề lập đền thờ để tưởng nhớ. Mộc bản sách Đại Nam nhất thống chí, quyển 9, mặt khắc 26 ghi rằng: “Đền thờ Cống Quận công ở thôn Cự Tài, huyện Bồng Sơn. Thời quốc sơ, thờ Công thần, Khám lý Cống quận công Trần Đức Hòa”. 

Năm Bính Thân (1716), chúa Nguyễn Phúc Chu cho một người cháu gọi Đức Hòa bằng ông chú được miễn sai dịch, lại cấp cho 10 mẫu tự điền.

Năm Ất Sửu (1805), vua Gia Long cho truy xét công thần khai quốc, liệt Đức Hòa vào hạng nhất: “Cho Khám lí Trần Đức Hòa làm công thần bậc nhất”. Ngoài ra, vua Gia Long còn ban cấp 9 mẫu tự điền và 4 người trông coi mộ phần. Bên cạnh đó, ấm thụ một người cháu đời xa làm Đội trưởng, được thế tập để coi việc thờ cúng. 

Năm Giáp Thân (1824), vua Minh Mạng đã: “Ấm thụ cho Trần Viết Tứ làm Đội trưởng để coi giữ việc thờ cúng Khám lý Cống Quận công Trần Đức Hòa. Đức Hòa là công thần buổi quốc sơ, khoảng năm Gia Long ấm thụ cho con cháu là Trần Tần làm chủ tự. Tần không có con, em là Tứ xin tập ấm. Vua y cho. Nhân sắc rằng từ sau phàm con cháu công thần được tập ấm mà chết thì quan sở tại tâu lên. Định làm lệnh mãi mãi”.

Trải qua nhiều biến cố của lịch sử, Đền thờ Cống quận công Trần Đức Hòa không còn nữa. Nhưng gần đây chính quyền cùng với gia tộc Trần Đức đã xây dựng lại khu tưởng niệm Khám lý Trần Đức Hòa, điều đó thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn đối với cha ông và sự trân trọng của thế hệ hôm nay với một danh nhân như Cống quận công Trần Đức Hòa.


Cao Thị Quang (Báo Bình Định)

spacer

CHÂN DUNG 13 VỊ VUA TRIỀU ĐẠI NHÀ NGUYỄN (1802 - 1945)

Trong số 13 vị vua triều đại nhà Nguyễn, thì chỉ có 8 vị vua là chúng ta nhìn thấy được gương mặt thật (ảnh do người Pháp chụp). Còn các vị vua trước chỉ có hình vẽ chân dung.


1: Vua Gia Long (hình vẽ tư liệu)
2: Vua Minh Mạng (hình vẽ tư liệu)
3: Vua Thiệu Trị (hình mới vẽ)
4: Vua Tự Đức (hình vẽ tư liệu)
5: Vua Dục Đức (chưa có ảnh)
6: Vua Hiệp Hoà (ảnh chân dung)
7: Vua Kiến Phúc (ảnh chân dung)
8: Vua Hàm Nghi (ảnh chân dung)
9: Vua Đồng Khánh (ảnh chân dung
10: Vua Thành Thái (ảnh chân dung)
11: Vua Duy Tân (ảnh chân dung)
12: Vua Khải Định (ảnh chân dung)
13: Vua Bảo Đại (ảnh chân dung)

👉 Ảnh vua Kiến Phúc vẫn còn nhiều nghi vấn, vì nhiều người cho rằng đó là chân dung của vua Đồng Khánh. Nhưng cũng có nhiều mems "soi" kĩ thì có nhiều điểm khác biệt, và khẳng định đó chính là dung nhan của vua Kiến Phúc (ý kiến cá nhân các mems). Sở dĩ 2 vị vua có gương mặt giống nhau là vì Kiến Phúc và vua Đồng Khánh đều là huynh đệ cùng cha cùng mẹ...

Ảnh tư liệu - Kinh Đô Huế

--------------
(C): Kinh Đô Huế
Ảnh tư liệu
spacer

Hôm nay, kỷ niệm 151 năm ngày sinh của hoàng đế Hàm Nghi 3/8/1871 - 3/8/2022

 Hôm nay, kỷ niệm 151 năm ngày sinh của hoàng đế Hàm Nghi 3/8/1871 - 3/8/2022. Là một trong ba vị vua có tinh thần chống Pháp thời nhà Nguyễn. ❤❤


Tác giả: Ging

Tranh này do Ging vẽ lại (không dám nhận là phục chế) từ một bức chân dung được cho là của vua Hàm Nghi khi mới lên ngôi, trong cuốn sách chưa rõ tên được xuất bản năm 1935 cùng với một số bức đáng quý khác.


Nguồn: Kinh Đô Huế  - @HueViewersGroup

 

Ảnh gốc mà tác giả sử dụng để thể hiện tác phẩm


Hai bức chân dung được biết đến rộng rãi của cựu hoàng Hàm Nghi, được thực hiện trong giai đoạn ông sống ở Alger. Ông qua đời tại đây năm 1943 vì bệnh ung thư dạ dày. Ảnh tư liệu.






spacer

bàn thờ và câu chúc THIÊN QUAN TỨ PHƯỚC

 BÀN THỜ THÔNG THIÊN VÙNG LỤC TỈNH.

“Saigon cũng thuộc vùng Lục Tỉnh, và cũng chịu ảnh hưởng nét văn hoá vùng đất Phương Nam bình dị”


Ở vùng quê Lục Tỉnh, hầu như nhà nào cũng có đặt một bàn thờ Thông Thiên trước nhà. Gọi là bàn Thông Thiên, bàn Ông Thiên, bàn Phật Thiên, hay bàn Thiện, cách nào cũng đúng.

Dù với bất cứ danh gọi nào, thì mục đích và ý tưởng của cư dân vùng đất này qua bàn thiên đã tạo cho mình một đời sống tâm linh rất phong phú, thanh cao, an lạc!

Trên bàn thiên có một lọ cắm hương bằng sành, đặt ở phía sau cùng, bên cạnh phía tay phải của người nhìn vào là một bình cắm hoa, trước lọ cắm hương đặt một cái dĩa đựng 4 chén chung nước. Nhà nghèo có khi người ta dùng lon sữa bò để cắm hương, dùng cái chai xá xị hay hũ tương để cắm hoa.

Hằng ngày, vào lúc chập tối, chủ nhà đốt ba nén nhang, chắp tay đứng trước bàn thờ khấn vái, cầu Trời ban phước lành, sức khỏe, bình an… hy vọng qua làn khói nhang tỏa lên Trời mang theo những lời cầu khẩn của gia chủ, để nguyện vọng được “thông” đến Trời.

“Bàn thiên” có từ thời khai hoang

Người khai hoang có câu nói “Tiền hiền khai khẩn. Hậu hiền khai cơ”, như nhắc lại cái ngày bỏ vùng Thuận Quảng xa xôi đến xứ sở lạ lùng đàng Trong sông nước mênh mông. Thuở đó con người lưu dân cảm thấy mình cô đơn nhỏ bé trước cảnh thiên nhiên hùng vĩ, chỉ còn biết đặt niềm tin vào đấng thiêng liêng tối cao đó là “Ông Trời”.

Con người ta lúc đó lấy bản thân mình làm chủ thể để suy ra nguyên tắc định hướng Trời đất: Ðông vi tả, Tây vi Hữu, Nam vi tiền, Bắc vi hậu. Nghĩa là hướng Ðông bên trái, Tây bên phải, Nam phía trước, Bắc phía sau mà định hướng cho ngôi nhà. Theo nguyên tắc này, những ngôi nhà đầu tiên dựng lên trên vùng đất mới, luôn quay mặt về hướng Nam.

Ðể mỗi khi bái tế người ta phải quay mặt vô bàn thờ tức là quay mặt về phía Bắc mà hoài niệm tri ân tổ tiên, thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”. Nhớ về tổ tiên Ngũ Quảng.

Ðặt bàn thiên tính từ ngạch cửa nhà cách khoảng 1 trượng (khoảng 4m) cắm cột “bàn thiên” giữa sân nhà nơi trống trải để ngó thẳng lên trời, hướng về phương Nam.

Vật cúng cũng đạm bạc đơn sơ như cơ ngơi của nó: Gạo và muối, ông cha ta rất quý trọng. Ðến đêm ba mươi Tết. Trừ Tịch giao thừa mừng năm mới bàn thiên cũng là nơi thiết lễ “Tống cựu nghinh tân” các ông Hành binh, Hành khiển, vật cúng có khá hơn nhưng không ngoài sản phẩm nông nghiệp.

Theo các kỳ lão thì lời khấn vái trước “bàn thiên” cũng giản dị nhầm cầu nguyện gia đình bình yên khỏe mạnh, tai qua nạn khỏi làm ruộng trúng mùa mà đối tượng cầu nguyện là “trời đất” và người “khuất mặt khuất mày”.

Sau khi cầu nguyện bàn thờ trong nhà xong, thì ra ngoài Trời chỗ bàn Thông Thiên, lạy 4 hướng mỗi hướng 3 lạy, lạy đứng hay lạy quỳ tùy theo lúc mạnh yếu, nếu không lạy được thì xá 4 hướng mỗi hướng 3 xá.

Ý nghĩa việc thờ Thông Thiên

Từ điển từ ngữ Nam bộ của Huỳnh Công Tín, cắt nghĩa “Bàn Ông Thiên” là bàn thờ trước sân nhà để đặt nhang, đồ cúng, làm bằng một tấm vuông nhỏ được đặt trên một trụ cao ngang tầm với người lớn; “Bàn Thiên: Bàn thờ Trời, Phật ở trước sân nhà ở nông thôn”.

Bàn thờ thường được làm bằng gỗ đơn sơ, gồm một cây cột cao khoảng 1.5 m, phía trên đặt một tấm ván hình vuông, mỗi cạnh dài khoảng 0.4m, khá giả thì đổ cột bê-tông và dán gạch men. Trên bàn thờ lúc nào cũng có một bình hương và 4 ly nước mưa và bình bông nhỏ.

Vào những ngày quan trọng như mồng một, ngày rằm thì có thêm hai chén đựng gạo, muối và mấy dĩa hoa quả. Hằng ngày, vào lúc chập tối, chủ nhà đốt một nén nhang, chắp tay đứng trước bàn thờ khấn vái, cầu Trời ban phước lành, sức khỏe, bình an… hy vọng qua làn khói nhang tỏa lên Trời mang theo những lời cầu khẩn của gia chủ, để nguyện vọng được “thông” đến Trời (thông thiên), để Trời phù hộ cho người thân và gia đình mình.

Ðối với người nông dân, ông Trời được xem là đối tượng có toàn năng, có phép màu và có lòng từ bi để cứu giúp con người, nên mỗi khi gặp tai nạn thì “cầu Trời, khẩn Phật” để cho “tai qua, nạn khỏi”. Trời có khi lại hữu hình, và cũng đồng dạng với con người nên được gọi là “Ông”, ông Trời có mắt.

Bàn Thiên hình vuông tượng trưng cho đất (thuộc âm), lư hương hình tròn tượng trưng cho Trời (thuộc dương). Khát khao vươn đến sự hoàn hảo của người phương Nam được thể hiện thường trực hằng ngày qua hình ảnh bàn thờ Thông Thiên: Có vuông-có tròn, có âm-có dương.

Trong văn chương truyền khẩu của người Việt còn lưu lại tín ngưỡng thờ Trời

“Lạy Trời mưa xuống

Lấy nước tôi uống,

Lấy ruộng tôi cày,

Lấy đầy bát cơm,

Lấy rơm đun bếp…”

Ðến những năm cuối thập niên 1950 và đầu thập niên 1960 ở miệt Tiền Giang và Hậu Giang người ta nghĩ ra cách đúc bàn thờ Ông Thiên bằng xi măng cốt sắt và để bán tại chỗ hoặc có ghe chở bán khắp các làng quê trong vùng. Do vậy sau này, ít thấy bàn thờ ông Thiên làm bằng cây vông, cây gòn, gốc tre…

Tại tiểu bang Cali Hoa Kỳ gần đây thấy xuất hiện một ít bàn Thiên trong khu người Việt sinh sống, dầu hình thức, vị trí bàn thờ không như còn ở quê nhà!

***

Bàn thờ Thiên, tín ngưỡng thờ Trời, đã góp vào sự đa dạng và phong phú của đời sống tinh thần, vào văn hóa phi vật thể của người Việt Ðồng Bằng Sông Cửu Long. Có sự tương đồng, thống nhất với người Việt ở các vùng miền đất nước, vừa có nét riêng của vùng miền Tây Nam.

Bàn thờ thiên, và tín ngưỡng thờ Trời, cho thấy thêm nét riêng văn hóa người Việt ở Ðồng Bằng Sông Cửu Long chính là sự tồn tại trong một không gian xã hội khác với miền Ðông và khu vực khác. Ðó cũng còn là kết quả của sự giao lưu văn hóa giữa người Việt và các tộc Chàm, Tàu, Miên cộng cư trên vùng đất Ðồng Bằng Sông Cửu Long.

Bàn thờ Thiên mang đậm đà tính mộc mạc, giản dị, chân thành của đất phương Nam, gần gũi với đất với Trời. Thờ kính Trời như một đấng tối cao, giãi bày tâm hồn và tin nơi Trời, phó thác cuộc sống riêng tư và gia đình nơi Ông Trời siêu việt hằng quan tâm đến cuộc sống của người dân nhu ca dao:

-Nhờ trời mưa gió thuận hòa

Nào cày, nào cấy trẻ già đua nhau

-Lạy Trời cho cả gió Nồm,

Cho thuyền chúa Nguyễn căng buồm tiến ra

Nam-Sơn Trần-Văn-Chi

spacer

CHUYỆN XƯA NÊN BIẾT

 Nguồn: Fb Nguyễn Gia Việt 


VÌ SAO TẢ QUÂN LÊ VĂN DUYỆT XUẤT THÂN THÁI GIÁM NHƯNG KHI MẤT LẠI CHÔN CÙNG BÀ PHU NHÂN?


Từ lâu người Sài Gòn, Gia Định, Chợ Lớn xem Tả Quân Lê Văn Duyệt là một vị thần có hơi hám tâm linh dân gian, đây là một hiện tượng độc nhứt vô nhị 


Các dịp Lễ Tết số lượng người đi Lăng Ông đông gấp nhiều lần đình chùa, ngày thường khách vẫn nườm nượp nhang khói không lúc nào nguội lạnh 


Ngày Tết Nguyên Đán đầu năm trong tiết tháng Giêng se lạnh, khi mà Trời Đất giao hòa cùng lòng người thì bá tánh thích ghé Lăng Tả Quân đặng cầu nguyện cho một năm an bình, tài lộc 


Sài Gòn còn có mộ và đền thờ của Võ Tánh, Trương Tấn Bửu, Võ Di Nguy nhưng đông nhứt vẫn là Lăng Ông Bà Chiểu. Gần đó có  đền thờ Trần Hưng Đạo nhưng dân Nam Kỳ ít khi lui tới 


Dân gian coi ông như thần và tế lễ ông tại lăng mang nghi thức thờ thần. Nghi lễ cúng kiếng tại lăng pha trộn giữa nghi lễ thờ cúng ông bà, tổ tiên của người Nam Kỳ với nghi lễ cúng thần


Người Việt cúng trái cây, bánh và nhang đèn. Người Hoa cúng heo quay theo tục của họ 


Vì ngày xưa Tổng Trấn làm cho Sài Gòn, Nam Kỳ  giàu mạnh nên nhiều người Việt lẫn Hoa coi ông là Phúc Thần, thành ra cúng tế ông là cầu xin, đó là lẽ thường xuất phát từ tâm tưởng của người dân 


Xin bắt đầu vài dòng về những ngày xưa 


Năm 1760 ông Lê Văn Hiếu cùng vợ chồng con trai ông bà là ông bà Lê Văn Toại rời Quảng Ngãi theo ghe bầu vô Nam Kỳ và tới vùng Mỹ Tho, sau định cư tại Vàm Trà Lọt 


Ông Lê Văn Toại và bà Nguyễn Thị Lập sanh ra con trai Lê Văn Duyệt ở đây 


Ông Lê Văn Toại sanh được 4 con trai, ông Duyệt là con thứ hai, con trưởng


Tương truyền, từ năm 14, 15 tuổi ông Lê Văn Duyệt thường tự than: “Sanh ra ở đời loạn mà không dựng cờ nổi trống làm đại tướng, để công danh trên thẻ bạc, thì chẳng đáng làm mặt trai!”.


Năm 1765 gia đình này dời nhà qua bên Long Hưng sanh sống 


Năm 1780 trong đêm mưa gió, Tây Sơn truy sát chúa Nguyễn Phước Ánh đã chạy từ Gia Định về Mỹ Tho tới vàm Ông Hổ và ghe chèo bị mắc cạn. Ông Lê Văn Toại chèo ghe ra cứu chúa Nguyễn và tùy tùng đem về nhà mình trú tạm 


Sau thấy ông Duyệt lanh lẹ, cũng khỏe mạnh, chúa trả ơn gia đình họ Lê bằng cách nhận con trai họ là Lê Văn Duyệt cho đi theo cùng đặng làm thái giám nội cung 


Sử Nguyễn chép Lê Văn Duyệt tuổi thơ không chịu học hành mà chỉ thích bắt chim, đánh cá, đá gà và tụ tập các trẻ trong làng, chia phe chơi trò tập trận 


Đại Nam liệt truyện cho biết “ông mình thể ngắn nhỏ, tinh hãn, có tài lực”, và mắc bệnh “ẩn cung hình” từ lúc mới sanh. 


Ẩn cung hình tức bộ phận sanh dục quá nhỏ và hình như con tằm không thể sanh con được


Nhiều nhà sử học nói ông không có bộ phận sanh dục nam, có người nói đó là tật "ẩn tinh hoàn" 


Chữ "ái nam ái nữ" là chữ không chính xác với một nhân vật lịch sử 


Trích "Nhật ký hành trình" của John White, London 1824, tr. 236:


"Tổng Trấn Sài Gòn nghe lời người ta nói là một hoạn quan. Trông hình dáng của ông đã chứng minh khá rõ tiếng đồn này. Ông ấy khoảng 50 tuổi, có cái nhìn thông minh. Ông có vẻ hoạt động mạnh về thể chất & tinh thần


Gương mặt tròn, nhẳn, không râu. Riêng giọng nói rất chát tai, giống tiếng đàn bà. Còn y phục của ông ta giản dị giống như y phục của người nghèo .."


Theo mô tả thì ông không có râu, giọng hơi chát, tức là âm hơi bổng, nội tiết tố nam testosterone hơi bị ít 


Từ thái giám, ông được làm cai đội nội cung, rồi tham gia đánh trận


Dũng cảm và quyết đoán, ông đánh trăm trận trăm thắng. Nổi danh trận Thị Nại Quy Nhơn 


Tả Quân Tổng Trấn Lê Văn Duyệt gan dạ, lập nhiều chiến công vào bậc nhứt khai quốc công thần thời Gia Long


Ông từng giữ chức Tổng Trấn Gia Định Thành 2 lần: từ 1812 đến 1815 (triều vua Gia Long) và từ 1820 đến 1832 (đời vua Minh Mạng)


Tả Quân lúc uy quyền, tuy chữ ít nhưng lòng người ai cũng kính phục, gọi ông là Ông Lớn Thượng, là Lê Thượng Công


Ông là người giỏi quân sự lẫn chánh trị, ngoại giao, là một vị quan nghiêm khắc, thanh liêm


Dù quyền hành lớn, ông không hề hiếp đáp kẻ dưới, hoặc tìm mọi cách để tư túi riêng, lính của ông có kỷ luật, không hề phá phách, cướp bóc dân gian 


Vì bất đồng cách trị quốc với vua Minh Mạng nên ông vua này để bụng với ông Duyệt nhưng do Lê Văn Duyệt có quyền uy lớn trong triều đình nên vua Minh Mạng không làm gì được


Nên hiểu ông Duyệt là thủ lãnh thế lực Nam Kỳ thời đó, phe Nam Kỳ góp phần cho nhà Nguyễn trung hưng, Nam Kỳ giàu có, nạp thuế, góp lúa gạo nhiều nhứt cho Huế 


Tả quân Lê Văn Duyệt được vua Gia Long tin tưởng giao như như phó vương Nam Kỳ tự trị, vua Gia Long nhờ dân Nam Kỳ mà trung hưng nhà Nguyễn, sống mấy chục năm ở Nam Kỳ nên vua hiểu bụng dạ người Nam Kỳ, cái tánh hảo sảng nhưng cũng rất tự do, Nam Kỳ tuy nhìn là dễ tánh nhưng thực sự rất khó, nguyên tắc rất chặt 


Thời của ông Tả Quân cai quản thì đất Gia Định - Nam Kỳ tự do kinh tế thị trường, doanh nhân ngoại quốc Tây - Tàu bán buôn, truyền giáo tự do


Thời Minh Mạng cương vực lãnh thổ Đại Nam bao trùm Lào và Cam Bốt, công của phe Nam Kỳ rất lớn vì góp của cải, lương thực vào chuyện đó 


Sanh thời vua Minh Mạng không sợ ai, ông nắm quyền tột đỉnh ở Huế, nhưng lại cảm thấy phe Nam Kỳ có thể uy hiếp triều đình 


Lịch sử tréo ngoe ở chổ khi thạnh quá thì sẽ suy. Chánh trị mà, đó là quyền lợi của Nam Kỳ và Huế đã có sự mâu thuẩn nhau


Vua Gia Long vì được người Tàu Minh Hương giúp trung hưng nhà Nguyễn nên ông có chánh sách “nhẹ tay”, Minh Hương được miễn lao dịch và miễn thuế thân.


Năm 1824, Minh Mạng buộc tất cả người Tàu di cư phải đóng thuế thân kể cả người Minh Hương, Lê Văn Duyệt phản đối,

Lê Văn Duyệt cũng chống lịnh cấm đạo Thiên Chúa, chống chủ trương trọng nông ức thương của Minh Mạng. Minh Mạng chủ trương triệt luôn quyền tự trị của người Chàm ở trấn Thuận Thành, ông Duyệt cũng chống 


Khi ông Duyệt còn sống, biết lão thần có uy tín lớn nên vua làm ngơ, khi ông Duyệt vừa qua đời thì vua Minh Mạng ra tay 


Chờ sau khi Tả Quân Lê Văn Duyệt mất vào năm 1832, việc đầu tiên của vua Minh Mạng là phá hết thế lực, phe cánh của Tả Quân ở Gia Định và đặt quan cai trị trực tiếp


Vua Minh Mạng triệt phiên bớt thế lực của Tả Quân, bỏ quy chế tự trị của Gia Định trấn, lập tỉnh trực thuộc Huế, áp dụng chánh sách thắt chặt kinh tế ở Nam Kỳ nên đã bị Nam Kỳ phản ứng chống đối


Những cái này ông Duyệt còn sống lại cho tự do 


Quan từ Huế vô, việc đầu tiên là khám tư dinh và truy xét tài sản của Lê Văn Duyệt, sau đó có những cử chỉ bất kính với người vừa mất 


Tổng đốc Nguyễn Văn Quế, bố chánh Bạch Xuân Nguyên và án sát Nguyễn Chương Đạt sai dựng lên một vụ án xử Lê Văn Duyệt 


Người Minh Hương, người Công giáo, điền chủ, quan lại Nam Kỳ bất bình 


Đêm 18 tháng 5 năm Quý Tỵ (1833), con nuôi Tả Quân là Lê Văn Khôi cùng 27 lính hồi lương đột nhập dinh Bố Chánh giết cả nhà Bạch Xuân Nguyên. 


Quan Tổng đốc Nguyễn Văn Quế cũng bị giết 


Tới ngày 7 tháng 6 năm 1833, quân binh biến chiếm cả Nam Kỳ Lục Tỉnh một cách dễ dàng, Huế rúng động 


Dân Nam Kỳ ủng hộ vang trời


Phe Lê Văn Khôi bao gồm: Dân điền chủ Nam Kỳ, Cố đạo, giáo dân Công giáo, người Tàu bốn bang – kể cả con cháu Mạc Cửu ở Hà Tiên, con cháu Thoại Ngọc Hầu, người Miên (Con trai ông Nguyễn Văn Tồn ở Trà Ôn), Tiểu vương Chàm ở trấn Thuận Thành (Bình Thuận) một số người dân tộc ở Tây Nguyên cũng có dính líu 


Chúng ta nên nhìn kỹ, cuộc nổi loạn Lê Văn Khôi bắt nguồn từ chính sách triệt phiên, cấm đạo và bế quan tỏa cảng của vua Minh Mạng ở Nam Kỳ, nó là mâu thuẩn chánh trị giữa Nam Kỳ mà Tả Quân là thủ lãnh và triều đình Huế mà vua Minh Mạng là đại diện 


Cuộc binh biến thách thức vua Minh Mạng trong hơn 2 năm từ 1833 tới 1835


Và trong thế bị ép, Lê Văn Khôi làm binh biến, vua Minh Mạng sau đó dẹp được nhưng Huế cũng một phen xấc bấc xang bang và người ta đồn trong thời gian đó vua Minh Mạng sợ Lê Văn Khôi hành quân thốc ra đánh úp Huế nên đem vàng bạc chôn rất nhiều nơi ở Huế 


Lê Văn Khôi không đánh rốc ra Huế là một sai lầm, để triều đình có thì giờ đem quân vào Nam, trước tiên là khủng bố giới điền chủ nuôi Lê Văn Khôi 


Vụ binh biến thành Phiên An của Lê Văn Khôi rốt cuộc bị triều đình dẹp yên


Cả thảy 1.831 người trong thành đều bị chém đầu và vùi xác chung trong một hố ở Đồng Tập Trận mà vua Minh Mạng gọi là Mả Ngụy - Mả Biền Tru 


"Chiều giông Mả ngụy cũng giông.

Hồn lên lớp lớp bềnh bồng như mây

Sống thời gươm bén cầm tay

Chết thời một sợi lông mày cũng buông

Thương thay Mả ngụy mưa tuôn ..."


Trong đó có 800 người Tàu Nam Kỳ. Sử chép có một người tên “Bốn Bang” trước khi chết để lại bài thơ lục bát dài 308 câu kể lại sự kiện gọi là “Bốn Bang thư”, bài thơ này là của ông Lưu Hằng Tín 


Xin nhớ, Bốn Bang không phải tên người nào riêng lẻ, là bốn bang hội của người Tàu gồm Quảng Đông, Phúc Kiến, Triều Châu và Hải Nam. Tức là hiểu rằng có 4 bang hội Tàu hổ trợ tài chánh và nhơn lực cho Lê Văn Khôi 


Triều đình áp giải về Huế xét xử và tử hình lăng trì, bêu đầu 8 người, cầm đầu - trong đó có Lê Văn Cù - con trai 7 tuổi của Lê Văn Khôi (Khôi đã chết trước đó), một giáo sĩ Pháp tên Marchand (Cố Du), hai người Tàu tên Mạch Tấn Giai (người Tiều) và con trai nhỏ của ông này, Lưu Hằng Tín (người Quảng). Sau khi bêu đầu thì xác được đưa trả về Nam chôn


Sai lầm của Lê Văn Khôi khi đi cầu viện quân Xiêm vì thế tính chánh danh đã không còn được sự ủng hộ của bá tánh Nam Kỳ


Sau khi chiếm thành Phiên An, chém 1.831 người chôn ở mả ngụy – mả biền tru. Vua Minh Mạng cho phá thành xây lại thành nhỏ


Vua Minh Mạng đã san bằng mả của ông Duyệt và lôi nguồn gốc Thái giám của ông Duyệt ra miệt thị. Ngay tại mả Tả Quân vua Minh Mạng cho đóng tấm bia đề chữ "Quyền yêm Lê Văn Duyệt phục pháp xứ“ (Đây chỗ tên hoạn quan lộng quyền Lê Văn Duyệt chịu phép nước”


Đến lúc Tả quân Lê Văn Duyệt mất đi, vua Minh Mạng mới tuyên án tội của Lê Văn Duyệt trên ngôi mộ của ông


Vì bị oan khuất, hạ nhục mà dân lại còn thương nhiều hơn, từ tình cảm tới tâm linh, thành Linh thần Gia Định 


Lăng Ông linh thiêng trong lòng dân Nam Kỳ, người Tàu Chợ Lớn kêu là Lăng của Phò mã gia gia, nghĩa là lăng cha ông Phò mã (Cha thừa kế của Phò mã Lê Văn Yên - ông này là cháu ông Duyệt, con ông em Lê Văn Phong ) 


Tương truyền tướng tinh của Tả Quân là con cọp, khi còn sống lúc ngủ thì ban đêm có người thấy có bóng dáng con cọp hiện ra chợp chờn ở bên cạnh 


Vì Tả Quân có danh vọng với Nam Kỳ, cho tự do thông thương, kinh tế thị trường, tự do truyền đạo, có tầm nhìn của một người Nam Kỳ mở, lòng dạ thoáng, tầm nhìn rộng đã bị hạ nhục ngay cái mả - chổ chôn nấm xương tàn của mình 


Suốt mấy chục năm khu mả của ông hoang vắng không ai dám đi qua, truyền rằng đêm xuống nghe quân reo ngựa hí, có ma khóc lóc ở đó 


Dân Gia Định cả Việt lẫn Tàu đều đau thương 


Tả Quân Lê Văn Duyệt càng bị hạ nhục, bị xử khi đã chết thì cái tiếng linh của ông càng lan rộng trong dân gian


Dân kể giai thoại rằng những năm 1950 vua Thành Thái dịp Tết nọ lơn tơn đi chơi Lăng Ông, có ai đưa cho cựu hoàng cây nhang, ông nói rằng: ”Nó (Ông Duyệt) phải lạy tao chứ tao không lạy nó”


Có chuyện truyền rằng vua Thành Thái vào Nam Kỳ đi ngang Lăng Ông thì xe hơi bị chết máy, Thành Thái phải sai bỏ cái xiềng trên mộ ông mới nổ máy được (Nhưng thực tế cái xiềng ấy đã được bỏ đi từ đầu đời Thiệu Trị)


Lăng Ông linh thiêng trong lòng dân Nam Kỳ, người Tàu Chợ Lớn kêu là Lăng của Phò mã gia gia, nghĩa là lăng cha ông Phò mã


Kế bên mả vợ chồng Tả Quân người dân xưa dựng lên 上公廟 “Thượng Công miếu” từ 1841, không ngày nào là không có người đến cúng kiếng bánh trái, nhang đèn 


Đó là lòng dân, dân thương nên dân cúng 


Còn vì sao xuất thân là hoạn quan mà Tả Quân lại có Phu Nhân và lăng ngày nay có hai ngôi mộ song táng kế bên? 


Tả Quân phu nhân tên là Đỗ Thị Phận 


Đọc "Sài Gòn năm xưa" ông Vương Hồng Sển chép rằng:


"Nghe nói lại, lối năm 1885, thì chợ cũ ở vào xóm nhà dưỡng đường Chợ Rẫy, nay chỉ còn trơ lại một danh trơn và đây có lẽ là một chợ hồi đời trước, đến trào Pháp lại dẹp đi. Trước dưỡng đường Chợ Rẫy, xưa kia có một ngôi mộ cổ bằng vôi, kiểu chạm trổ rất khéo, tương truyền là của một ông hầu tước họ Đỗ (Tombeau du marquis de Đỗ)


Trường Viễn Đông Bác cổ đã xin liệt kê làm cổ tích, nhưng chủ đất là người có thế lực, một hai xin phá để cất phố xá và viên Toàn quyền Decoux ưng lời, thiệt là rất tiếc cho một cổ tích không có người ủng hộ


Mộ phần họ Đỗ này có dính líu với Tả quân phu nhơn, tên tộc là Đỗ Thị Phẫn. Tương truyền khi Lê Tả quân bị tội, phu nhơn về ngụ nơi xóm Chợ Rẫy, trong một ngôi chùa Phật, do bà mẹ năm xưa đứng tạo lập tục danh là Chùa Bà Dội." (Hết trích) 


Tức là khúc Chợ Rẫy là đất của bên ngoại nhà bà Đỗ Thị Phẫn, chùa Bà Đội là chùa của má bà lập ra 


Chúng ta chỉ có một chi tiết mơ hồ về Tả Quân phu nhân Đỗ Thị Phận 


Vào năm 1900, bệnh viện Chợ Rẫy được xây dựng và lúc đó còn mả họ Đỗ, còn chùa Bà Dội là chùa nào tới nay chưa xác định được 


Tổng trấn Gia Định thành Lê Văn Duyệt vốn là thái giám, sanh ra có tật "ẩn cung" nhưng trưởng thành trong chiến trận


Sử thần triều Nguyễn viết “Chư tướng thời trung hưng chỉ có Duyệt cùng Nguyễn Văn Trương đánh giặc không thua trận nào”.


Ông Tả Quân tánh rất nóng và có học vấn hạn chế 


Sau 1802 ông Lê Văn Duyệt là Đệ Nhứt Khai Quốc Công Thần của nhà Nguyễn, vua phong ông là Khâm Sai Chưởng Tả Quân Dinh Bình Tây Tướng Quân, tước Quận Công 


Sau đó vua Gia Long ban vợ cho Tả Quân Lê Văn Duyệt


Sử không ghi dòng nào về bà vợ họ Đỗ này 


Trong truyện ngắn "Đức Tả Quân" của Phạm Hữu Hoàng có ghi là: "Bấy giờ trong triều có nàng Đỗ Thị Phận, là ái nữ quan Thượng bảo khanh Đỗ Phiên. Đỗ Thị Phận dung nhan xinh đẹp, giỏi về y thuật, tính tình nghiêm nghị" 


Thượng Bảo khanh thời Gia Long là quan trật Tòng tam phẩm. Tuy nhiên chưa tra ra ông Thượng bảo khanh Đỗ Phiên là ai 


Nhưng bà Đỗ Thị Phận này có lẽ cũng là con quan và vào cung làm cung nữ. Thời xưa bà Từ Cung Hoàng Thái hậu Hoàng Thị Cúc mới vô cung cũng làm cung nữ hầu hạ đó thôi 


Nhà vua ban hôn cho Tả Quân với bà Đỗ Thị Phận, tức bà Đỗ này làm phu nhân Tả Quân, cả hai người phải chấp nhận 


Vua Gia Long đổi tên bà Đỗ từ Phận ra Phẫn


Chữ 墳 phẫn có nghĩa cao lớn, đất nhô lên. Đỗ Thị Phận thành Đỗ Thị Phẫn, tên được vua ban cho luôn, quá vinh dự 


Trong "Đức Tả Quân" Phạm Hữu Hoàn tả tâm trạng đêm hợp cẩn vợ chồng nghe rất có lý, chồng là Thái giám, vợ cung nữ và họ rất tôn trọng nhau về lý trí 

(Trích) 


"Đỗ Thị Phẫn mặc áo tân nương, khăn đỏ rũ che mặt ngồi trên ghế đợi. Tả quân bước vào, tới ngồi ghế đối diện. 


Tả quân lên tiếng, rành rọt:

– Nàng là nương tử vua ban. Nhưng ta không thể cùng nàng chăn gối. Mong nàng hiểu cho. Đây là phòng riêng của nàng, cần gì cứ nói với ta!


Lời vừa rồi của Tả quân làm Đỗ Thị Phẫn giảm bớt căng thẳng. Không ngờ Tả quân thẳng thắn, dứt khoát như vậy. Mọi thứ bỗng trở nên rõ ràng hơn. Nàng bớt lo âu như lúc bước vào dinh thự của Tả quân trong tiếng pháo nổ đón dâu. Lê Văn Duyệt gọi hai tỳ nữ vào căn dặn chăm lo cho nàng, rồi đi ra ngoài.

.........

Trong cuộc sống hằng ngày, Lê Văn Duyệt không để Đỗ Thị Phẫn thiếu thốn điều gì. Những lễ hội cung đình, Tả quân đều đưa Phu nhân đi dự. Việc hiếu nghĩa cả hai phía, Tả quân đều lo chu toàn. Mỗi khi có việc quân phải đi xa lâu ngày, Tả quân tin cậy căn dặn vợ quán xuyến việc nhà


Đỗ Thị Phẫn quen dần với cuộc sống mới


Càng gần gũi, nàng thấy Tả quân không như những gì mường tượng ban đầu


Người chồng chưa bao giờ đồng tịch đồng sàng luôn cảm thông và hết sức tôn trọng nàng. Qua nhiều lần hàn huyên tâm sự, ít nhiều đã có sự gắn bó."(Hết trích)


Thuyền theo lái, gái theo chồng 


Tả Quân phu nhân gắn bó với chồng mấy chục năm, bà là người hiền thục đoan chánh, lo từng chút cho chồng từ miếng ăn tới giấc ngủ, ông là người liêm khiết và sĩ diện 


Năm 1832 Cọp Gấm Đồng Nai Lê Văn Duyệt lìa đời khi đương chức Tổng Trấn Gia Định Thành tại tư dinh của ông ở khu dinh Độc Lập ngày nay 


Trần Bảo Định trong "Kệ kinh trong lòng người" viết lại giây phút vợ lìa chồng như sau: 


"Ánh bạch lạp không đủ sáng để soi thủng bóng tối đêm cuối, Phu nhân Đỗ Thị Phẫn quỳ bên giường bịnh lắng nghe lời trăn trối của chồng: 


- Nếu, một mai ta đi về cõi khác, phu nhân quay lại xóm Rẫy xưa, nơi mẹ trước kia đã tạo lập ngôi chùa Phật, tục danh chùa Bà Dội mà nương náu ... 


Gió rít tường thành dữ dội, tiếng mưa át cả lời người sắp ra đi và những hạt mưa đêm không thấm thấu nổi những giọt nước mắt của phu nhân Tổng trấn Gia Định thành


- Nàng đừng tiếc thương ta, bởi ta chỉ là kẻ yêm hoạn tầm thường ... ta không thể ... thiệt là, vô cùng có lỗi với phu nhân


Minh Mạng đầu nuôi chí cả, óc thông minh, trái tim còn nóng hổi, chưa lạnh lùng ... tuy bụng dạ có hẹp hòi đố kỵ ...


Ta tin rằng, Minh Mạng sẽ trả thù ta, nhưng với phu nhân chắc là không. Bởi, Minh Mạng thừa biết ta với nàng chỉ là phu thê trên danh nghĩa ... "


Tả Quân mất ngày 30 tháng 7 năm Mậu Thìn (nhằm ngày 15 tháng 8 năm 1832) hưởng thọ 69 tuổi


Tả quân còn có hai cô hầu rất thương, bằng chứng ngày nay mé ngoài vòng thành Lăng Ông còn có mả hai cô hầu rất lớn 


Đêm 8/5/1833 Lê Văn Khôi làm binh biến chiếm thành Gia Định ly khai triều đình Huế trong 2 năm trời làm Huế một phen thất kinh 


Đại Nam Thực lục chép trước khi phát động binh biến, Lê Văn Khôi có tới bẩm với bà Đỗ Thị, bà đã khóc ròng nói: "Các ngươi làm thế thì chắc chắn Thượng công sẽ bị đào mả thôi"


Ngày 16 tháng 7 năm 1835, quân triều đình Huế chia làm 8 mũi, tấn công ồ ạt vào thành Gia Định, vụ binh biến bị dẹp 


Vua Minh Mạng làm án xử Lê Văn Duyệt nhưng chừa Đỗ phu nhân ra vì biết bà là vợ danh phận và không có con nối dõi


Đỗ phu nhân về Chợ Rẫy sống ẩn dật, nhịn nhục ở chùa Bà Dội tới chết 


Khi bà mất người nhà vạch rào ban đêm đem quan tài bà chôn kế bên Tả Quân ở trong Lăng Ông Bà Chiểu, lúc này mả bị đục bia, san núm, xiềng xích và nhiều lời đồn về ban đêm ma quỷ gào thét vang trời. Người vợ đồng cam cùng chịu hình phạt với chồng 


Ngày nay đi lăng Ông thấy mả Tả Quân và Phu Nhân họ Đỗ nằm song song nhau, ta biết hai ông bà chung thủy và sắt son với nhau 


"Đạo nào bằng đạo phu thê

Tay ấp, má kề, sanh tử có nhau"


Tình nghĩa vợ chồng từ trong cách sống và sự tôn trọng nhau


Người xưa có lòng sáng tợ mặt trời


Kết luận:


Chưa có ông tướng nào có được vị trí tâm linh như Tả Quân Lê Văn Duyệt 


Chưa vua nào phong Thần cho ông, nhưng dân coi ông là Thần, coi ông như Phước Thần của Sài  Gòn, kêu nơi gửi nắm xương tàn của ông là “Lăng Ông” 


Sống  làm tướng bách chiên bách thắng, sống làm quan thanh liêm lo cho dân, chết làm Thần của dân 


Có gì hạnh phúc hơn


Mang lễ vật cúng không phải là mê tín dị đoan, tục này có từ đời xưa với lòng tin "có kiêng có lành". Người Việt thờ tổ tiên thường vẫn làm mâm cơm cúng giỗ ông bà, thì mang lễ vật cúng Tả Quân cũng như cúng ông bà vậy thôi 


Cúng Lăng Ông hay có xây chầu hát bội, đó là nét văn hóa đặc trưng Nam Kỳ xưa cần giữ gìn 


Cầu khấn Tả Quân cũng không phải mê tín dị đoan, cũng chẳng phải trả giá, trả treo gì với tiền nhân, thực chất nó là niềm tin, là tình thương, là sự gửi gắm lòng thành, niềm tin của dân Nam Kỳ vào Tả Quân. Cái sự "linh thiêng" và "linh ứng" là một đặc trưng ở đây mà các nơi khác không có được 


Đốt giấy tiền vàng bạc ở Lăng Tả Quân thường là người Tàu, đó là tục của họ, họ cúng chùa Tàu cũng vậy mà thôi 


Lăng Ông Bà Chiểu đã trở thành trung tâm tín ngưỡng thờ Thần điển hình của người Nam Kỳ vùng Sài Gòn Gia Định, đồng thời cũng là biểu tượng giáo dục tinh thần chánh trị cho thế hệ trẻ Nam Kỳ 


Thông điệp là: Sống có chánh kiến, dám làm, dám chịu trách nhiệm, tay gươm tay viết, biết ý thức đem lợi ích về cho Nam Kỳ, biết phản kháng và chết vẫn hiển linh bảo vệ xứ sở mình.

spacer

CHỮ NGHĨA XUÂN

 Ngày xuân, nhớ lại cách thầy đồ giúp nho sinh phân biệt chữ 春 Xuân với chữ 舂 Thung.

Trước khi đi xa, anh chồng ghi vào Yô-ni của vợ chữ 春 Xuân. Khi về, vợ ngồi nhặt rau, thấy chữ 舂 Thung nên anh buồn bã xuất khẩu thành thơ:

昔日我題春一字 Tích nhật ngã đề XUÂN nhất tự

今于到此是成舂 Kim vu đáo thử thị thành THUNG

Vợ chàng cũng biết chữ nên nháy mắt trả lời bằng 2 câu:

怨君不識冤情婦 Oán quân bất thức oan tình phụ

立則春兮坐則舂 Lập tắc XUÂN hề, tọa tắc THUNG

Ngày ấy ta đề XUÂN một chữ

Nay về xem lại thấy thành THUNG

Bởi chàng không rõ nên chàng giận

Đứng ắt là XUÂN, ngồi hoá THUNG.

spacer

TRẦN THỪA VÀ NGÀY KỴ 18 THÁNG GIÊNG

 Chuẩn bị đến ngày huý kỵ 788 năm Thái Tổ Trần Thừa 18- Giêng năm Canh Tý -2021. TT xin chia sẻ thông tin về Thái Tổ để cùng tìm hiểu.

                         -.-.-.-.-.-.-.-.-

TRẦN THỪA - THÁI TỔ CỦA VƯƠNG TRIỀU TRẦN (1184-1234)


Trần Thừa là con trưởng của Trần Lý, là anh của Trần Tự Khánh, Trần Thị Dung, Trần Tam Nương. Năm 1225, con thứ là Trần Cảnh lên ngôi vua, khai sinh vương triều Trần, Trần Thừa được tôn là Thượng hoàng trông coi việc nước. 

Ông mất ngày 18 tháng Giêng năm Giáp Ngọ (1234), hưởng thọ 51 tuổi, làm Thượng hoàng 9 năm. 

Hiện có duy nhất đền thờ Thái Tổ Trần Thừa tại thôn Vạn Khoảnh xã Mỹ Phúc huyện Mỹ Lộc tỉnh Nam Định.

                                                                                                                                                     

Trần Thừa sinh năm Giáp Thìn (1184), là con trưởng của Trần Lý, là anh của Trần Tự Khánh, Trần Thị Dung, Trần Tam Nương. Từ nhỏ, ông sinh ra và lớn lên ở Tinh Cương (Long Hưng). Năm 1209, theo cha và cậu đem quân về kinh dẹp giặc, sau lại cùng em là Trần Tự Khánh lập công đánh tan dư đảng giặc ngoài cõi. Năm 1211, được Lý Huệ Tông phong làm quan (không rõ chức tước gì). Năm 1216, được phong làm Nội thị phán thủ. Năm 1223, được phong làm phụ quốc Thái úy (sau khi Trần Tự Khánh chết). Năm 1225, con thứ Trần Cảnh lên ngôi, Trần Thừa được tôn là Thượng hoàng trông coi việc nước, Trần Thủ Độ làm Thái sư thống quốc hành quân vụ chính thảo sự lo việc dẹp loạn. Tuy vậy, mọi việc trong triều hai người đều bàn bạc với nhau.

Những năm làm quan triều Lý, kể cả khi ông đã là Thái úy phụ chính, ông vẫn ở phủ đệ Tinh Cương, mãi đến ngày Trần Cảnh, con trai ông lên ngôi vua  khai sinh vương triều Trần phải cho người về Tinh Cương đón ông mới rời Tinh Cương về kinh. Việt sử lược (Bản dịch của Trần Quốc Vượng) ghi “Ất Dậu, Kiến Gia năm thứ 15 (1225) mùa đông tháng chạp, vua sai Nội thị phán thủ Phùng Tá Chu, Nội hành khiển tả thị lang trung Trần Chí Hoành đem văn võ bá quan sửa soạn thuyền xe đến phủ Tinh Cương đón Thái tổ ta”. Trần Thừa rất sùng đạo Phật, khi làm Thái Thượng hoàng, ông đã ra lệnh cho các nơi dịch đình đều đắp tượng Phật để thờ. Do xưa tục nước ta, bên các quốc lộ, nhiều chỗ làm quán để cho người đi đường vào nghỉ gọi là dịch đình.

           Trần Thừa lấy vợ họ Lê, sinh ra Trần Liễu (An Sinh vương), Trần Bồ tức Trần Cảnh (Trần Thái Tông), Trần Nhật Hiệu (Khâm Thiên vương). Có sách chép là Nhật Liễu, Nhật Cảnh. Con gái có Thụy Tư công chúa thường gọi là Thụy Bà. Khi còn hàn vi, Trần Thừa lấy vợ người thôn Bà Liệt, huyện Tây Chân, nay là xã Vũ Lao, huyện Nam Trực, Nam Định. Người vợ này bị bỏ quên khi Trần Thừa theo cha đi đánh giặc, sau sinh được một con trai. Mãi đến năm 1232, người con này mới được ghi nhận, đặt tên là Trần Bà Liệt và được phong tước Hoài Đức vương.

          Trần Thừa có tính khiêm nhường và biết đánh giá đúng người, đúng việc. Khi cha là Trần Lý mất, đáng lý việc cầm quân thuộc về Trần Thừa nhưng ông thấy Trần Tự Khánh có tài thao lược hơn mình nên nhường cho em. Khi ông được Lý Huệ Tông phong làm Phụ quốc Thái úy, ông tiến cử Trần Thủ Độ làm phụ tá và được Lý Huệ Tông chấp nhận phong ngay Trần Thủ Độ làm Điện tiền chỉ huy sứ. Lúc còn hàn vi, ông thường ngồi nghỉ ở dịch đình, có một nhà sư nhìn thấy ông nói rằng: “Người trẻ tuổi này, ngày sau sẽ đại quý”. Trần Thừa là anh cả trong nhà, là trưởng nam trong gia tộc, cũng tức trưởng môn phái Đông A, trước hết ông phải có trách nhiệm trước tiên tổ, trước dòng họ về sự tồn vong của gia đình, của dòng họ. Nhìn vào sự trưởng thành của các em ông: Trần Tự Khánh, Trần Thị Dung và các con ông: Trần Liễu, Trần Cảnh, Trần Nhật Hiệu thì ta không thể không thấy vị trí của ông… Việc ông làm rể Thái phó Lê Diện (triều Lý) và sau này, hai con ông làm rể Lý Huệ Tông không thể không có vai trò và ý đồ của ông. Các trọng thần triều Lý như quan nội hầu Phùng Tá Chu (quê ấp Mỹ Xá), Thái úy Phạm Kính Ân (quê Đặng Xá) cùng lộ Long Hưng sớm về với nhà Trần, trở thành công thần khai quốc triều Trần, thể hiện khả năng tập hợp lực lượng của ông. Ông ra làm quan triều Lý muộn hơn so với Trần Tự Khánh (1216), rồi Thái úy phụ chính (1224) “khi vào chầu không phải xưng tên” chứng tỏ tài năng và uy tín của ông không nhỏ.

           Trần Cảnh lên ngôi vua lúc mới 8 tuổi, Trần Thủ Độ được phong Quốc Thượng phụ nắm giữ mọi việc trong nước. Trần Thủ Độ nói: “Hiện nay giặc cướp đều nổi, họa loạn ngày càng tăng… thế nước nghiêng nguy… Nhị lang chưa am hiểu việc nước, chính sự nhiều chỗ thiếu sót, vận nước mới mở, lòng dân chưa phục, mối họa không phải nhỏ. Ta còn phải rong ruổi đông tây để chống giặc cướp, không gì bằng mời Thánh phụ làm Thượng hoàng tạm coi việc nước…”.

           Lời bàn của Trần Thủ Độ “Các quan đều cho là phải, mời Thánh phụ Trần Thừa nhiếp chính”. Tuy nhiên tháng 10 năm Bính Tuất (1226) Trần Thừa mới chính thức vào ngôi Thượng hoàng. Trong 9 năm ở ngôi Thượng hoàng (1226-1234), Trần Thừa làm được nhiều việc để củng cố Vương triều, xây dựng đất nước.

           Việc đầu tiên ông làm là trọng dụng những người hiền tài không phân biệt đối xử với các trọng thần triều trước như quan Phụng ngự Phùng Tá Chu, Thái úy Phạm Kính Ân, các ông không những được trở lại chức tước cũ mà còn được trọng dụng, được phong tới tước đại vương hoặc mang áo mũ đại vương. Với Quý Thịnh hầu cháu vua Lý Cao Tông sau cũng được phong tước vương, được ban quốc tính.

          Nhằm thống nhất ý chí, ông tuyên bố các điều khoản về lễ minh thệ, cùng mọi người thề “Làm tôi tận trung, làm quan trong sạch, ai trái thề này, thần minh giết chết”.

          Ông tiến hành chỉnh đốn triều chính, định luật lệ, thuế khóa, chế độ quan chức, lương bổng v.v. để ổn định nội bộ triều đình.

Để thiết lập kỷ cương, ông cho biên soạn “Quốc triều thông chế ”, sửa đổi hình luật, lễ nghi gồm 20 quyển… Việc dùng phép in ngón tay (điểm chỉ) vào các văn từ đơn khế do ông quy định đã đi trước các nước khác nhiều thế kỷ.

 Ồng rất chú ý đến việc đào tạo nhân tài, trong thời gian ở ngôi Thượng hoàng, ông cho tổ chức thi Tam Giáo (1227), thi Thái học sinh (1232) tuyển chọn nhân tài nổi tiếng trong đời.

          Một công lao to lớn trong cuộc đời làm Thượng hoàng của Trần Thừa là việc ông bồi dưỡng một ông vua con 8 tuổi thành một ông vua “Khoan nhân đại độ, có thể sáng nghiệp truyền dòng, lập kỷ dựng cương, gương sáng xây dựng và bảo vệ đất nước”.

Ông mất ngày 18 tháng Giêng năm Giáp Ngọ (1234), hưởng thọ 51 tuổi, làm Thượng hoàng cầm quyền 9 năm. Miếu hiệu là Huy tông, an táng ở Thọ lăng, thuộc hương Tinh Cương, phủ Long Hưng, nay là thôn Tam Đường, xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình, nơi cùng có lăng của ba hoàng đế đầu triều Trần là Trần Thái Tông (Chiêu lăng), Trần Thánh Tông (Du lăng), Trần Nhân Tông (Đức lăng).

Có thể chưa nói hết những công lao, những đóng góp của Trần Thừa với triều Trần, với dân tộc, nhưng những gì đã nói trên chứng tỏ ông là người có công lớn trong buổi đầu mở nghiệp. 12 năm sau khi ông mất (1246) ông được truy tôn là Thái Tổ. Miếu hiệu của Huy tông đổi là miếu Thái Tổ, Thọ lăng đổi là Huy lăng./.


Sưu tầm.

spacer

 

vuatuduc2

Võ Hương An

Thân tặng anh Đỗ Ái, để nhớ những ngày khoai sắn với nhau ở Tiên Lãnh

Một hôm đang cong lưng nhổ sắn trên đồi, một anh bạn cùng đội bỗng cao hứng hỏi: ‘Anh hay kể chuyện sử, vậy anh có biết chuyện người ta đồn

spacer

 Giai thoại Tú Quỳ (Quảng Nam) cho chữ vui Tết.

Một bà thưa với Tú Quỳ: Tôi đi chợ về, có mua tượng 3 ông Phước Lộc Thọ về đặt trên trang (khóm thờ), xin thầy cho ít chữ! Tú Quỳ cho 6 chữ: 千上流眾三乎 Bà hỏi chữ gì, Tú Quỳ bảo cứ đem về treo trên trang. Các sĩ tử trong vùng đọc được là: “Thiên thượng lưu chúng tam hồ” nhưng không hiểu ý nghĩa là gì, bèn đến hỏi Tú Quỳ. Ông chất vấn, sĩ tử nêu nghĩa Nôm của từng chữ: 千Thiên là NGÀN. 上 Thượng là TRÊN. 流 Lưu là TRÔI. 眾 Chúng là ĐÔNG. 三 Tam là BA. 乎 Hồ là ÔI. Các sĩ tử ghép nghĩa Nôm thành 6 tiếng NGÀN TRÊN TRÔI ĐÔNG BA ÔI 

Nói lái NGÀN TRÊN TRÔI thành NGỒI TRÊN TRANG; còn ĐÔNG BA ÔI thành ĐÔI BA ÔNG! Thì ra 千上流眾三乎 "Thiên thượng lưu chúng tam hồ" có nghĩa là "Ngồi trên trang, đôi ba ông"!

(Tú Quỳ - đỗ Tú tài thời Tự Đức, là danh sĩ trào phúng đất Quảng Nam. Nho sĩ Nguyễn Đại Quế kể, Trần Văn Hảo ghi năm 1985)

spacer

An Nam tứ đại khí là gì?

An Nam tứ đại khí là bốn kỳ quan, bốn vật quốc bảo của nước ta thời Lý, Trần bao gồm: Tháp Báo Thiên, chuông Quy Điền, tượng chùa Quỳnh Lâm và vạc Phổ Minh.

Phật giáo Việt Nam ngàn năm nay còn truyền tụng bốn bảo bối lưu danh kim cổ: An Nam Tứ Đại Khí còn được gọi là Nam Thiên Tứ Bảo Khí, hay Nam Thiên Tứ Đại Thần Khí, gồm có: tượng Phật chùa Quỳnh Lâm, tháp Báo Thiên, chuông Ngân Thiên (có tài liệu nói là chuông Quy Điền), và vạc Phổ Minh. Đây được coi là 4 kỳ quan, 4 quốc bảo, 4 công trình nghệ thuật dưới thời Lý, Trần.
Đề cập đến chủ nhân khai sinh “tứ đại khí” này, nhiều văn tự ghi chép không giống nhau, nhưng hầu hết xoay quanh truyền thuyết Thiền sư Minh Không sang Trung Hoa xin đồng về để đúc bảo khí …
Chuông Ngân Thiên
Chuông Quy Điền được đúc trong lần sửa lại chùa Diên Hựu (chùa Một Cột, Hà Nội) vào tháng hai năm Canh Thân (1080) đời Lý Nhân Tông. Để đúc quả chuông này, vua Lý Nhân Tông đã cho sử dụng đến 12.000 cân đồng (tương đương với 7,3 tấn đồng bây giờ). Chuông đúc xong, đánh không kêu, nhưng cho rằng nó đã thành khí, không nên tiêu hủy, nhà vua bèn sai người vần ra khu ruộng sau chùa.
Vì khu ruộng này thấp trũng, có nhiều rùa đến ở, nên có tên là Quy Điền (ruộng Rùa), nhân đó gọi chuông là chuông Quy Điền. Tháng 10 năm Bính Ngọ (1426), chuông Quy Điền đã bị Vương Thông (nhà Minh) cho phá hủy để chế súng đạn, hỏa khí.

Ảnh minh họa.

Tháp Báo Thiên
Tháp Báo Thiên có tên đầy đủ là Đại thắng tư thiên bảo tháp, được xây dựng vào năm Đinh Dậu 1057, dưới thời Lý Thánh Tông. Tháp cao 70m, có 30 tầng (một số tài liệu khác lại chép 12 tầng). Tháp nằm trong viên tự chùa Sùng Khánh phường Báo Thiên, nay thuộc Hoàn Kiếm Hà Nội.
So với những pháp khí còn lại cũng bị thất lạc thì Tháp Báo Thiên có phần thăng trầm hơn. Năm 1258 đời Trần Thánh Tông, tháp đã bị cháy. Được trùng tu nhưng không lâu sau tháp lại bị sét đánh sạt mất 2 tầng năm Nhân Tuất 1322. Đến năm Bính Tuất 1406 tháp lại bị đổ. Cuối cùng khi quân Minh xâm lược, chúng lại cho quân phá tháp nấu đồng đúc khí giới.
Tháp được liệt vào Tứ đại khí bới số tầng chẵn (12 hoặc 30) biểu hiện sự cân bằng, ổn định (như triều đình nhà Lý, ngụ ý cho sự trường tồn thịnh vượng). Tháp Báo Thiên được đúc bằng đồng có khắc ba chữ Đao Ly Thiên, tỏ ý rằng ý tưởng của đấng tối cao dâng lên hay xông lên trời thẳm. Trên đỉnh tháp còn có bức tượng tiên nhân đứng hứng mưa làm thuốc cho vua. Vì thế có bài ca của các bậc nho sĩ thuật rằng:
Trấn áp đông tây vững đế kỳ
Khuynh  thiên nhất tháp độc nguy nguy
Sơn hà bất động kình thiên trụ
Kim cổ nan nan lập địa chủng
Tức:
Trấn giữ đông tây vững đế kỳ
Tháp cao sừng sững thật uy nghi
Làm cột trống trời yên đất nước
Vượt mọi thời gian chẳng sợ gì.

Tháp Báo Thiên một thời là biểu tượng sự bền vững của nhà Lý.


Tượng Phật chùa Quỳnh Lâm

Truyền rằng chùa Quỳnh Lầm đã từng có hai pho tượng lớn. Do Thiền sư Nguyễn Minh Không tới Trung Quốc mang túi lớn thâu đồng đen về mà đúc thành. Một pho được đúc vào thời Lý do Thiền sư Nguyễn Minh Không phụ trách và một pho khác được đúc vào thời Trần cho Thiền sư Pháp Loa phụ trách. Theo một số tài liệu thì pho tượng đầu tiên thời Lý có chiều cao xấp xỉ 6 trượng (tức gần 20m) là tượng đồng cổ lớn nhất Việt nam, pho tượng lớn đến nỗi người ta phải cho xây tòa điện cao 7 trượng để đặt tượng. Vì lẽ pho tượng lớn vậy mà dân gian còn nhắc rằng, đứng ở phía nam huyện Đông Triều, cách chùa Quỳnh Lâm chừng 10 dặm vẫn có thể nhìn thấy nóc điện che sát đầu bức tượng. Đủ thấy sự vĩ đại của tượng Phật Thế nào. Có bài ca rằng:
Nức tiếng Quỳnh Lâm cõi sứ đông
Tháp cao chín đợt màu mây ám
Chùa rộng trăm gian gác ngựa hồng
Trước điện thông reo cùng trúc hóa
Trong am khánh đá với chuông đồng
Pho tượng thứ 2 đúc dưới thời nhà Trần bởi thiền sư Pháp Loa, thiền phái Trúc Lâm. Năm 1327, tượng được đúc xong , năm 1328, nhân dịp vua Trần Minh Tông đến thăm chùa, sư Pháp Loa đã lạy vua xin cho kéo tượng từ điện lên bảo tọa để dát vàng. Lúc ấy, công chúa Thượng Trân, vợ vua Trần Anh Tông đã công đức cho chùa 900 lượng vàng để dát tượng.
Đây là 2 pho tượng rất hùng vĩ trong giai đoạnh cực thịnh của Phật giáo Việt nam và cũng được xem như niềm tự hào của kiến trúc Đại Việt. Đáng tiếc cả 2 bức tượng đều đã bị quân Minh trong quá trình kéo quân sang xâm chiếm phá bỏ để lấy đồng đúc vũ khí vào thế kỷ 15.

Chùa Quỳnh Lâm lưu giữ những chứng tích Phật giáo - nơi Phật giáo phát triển vinh hiển của quá khứ.

Vạc Phổ Minh
Vạc Phổ Minh được đúc vào tháng 2 năm Nhâm Tuất (1262) đời Trần Thánh Tông, nhân dịp Trần Thái Tông (lúc đó là Thượng hoàng) về chơi Tức Mặc (nay thuộc về tỉnh Nam Định). Tại đây, Trần Thái Tông đã ban yến cho dân làng. Các hương lão từ 60 tuổi trở lên được ban tước hai tư, lão bà thì được hai tấm lụa. Nhân đấy, đổi Tức Mặc làm phủ Thiên Trường. Dựng cung Trùng Quang để các vua sau khi đã nhường ngôi về ở; lại dựng một cung riêng gọi là cung Trùng Hoa cho Tự quân (vua mới) khi đến chầu Thượng hoàng thì ngự ở đó. Đặt người chức dịch ở hai cung ấy để phòng khi sai khiến, hầu hạ và chức lưu thủ để trông coi. Phía Tây cung Trùng Quang dựng chùa Phổ Minh. Tại đây cho đúc một chiếc vạc lớn và khắc bài minh vào vạc.
Vạc sâu 4 thước, rộng 10 thước, nặng 6150 cân. Tương truyền, miệng vạc dày và rộng đến nỗi hai người có thể chạy nhảy và đi lại trên đó. Cùng với chuông Quy Điền, tháng 10 năm Bính Ngọ (1426) khi bị vây ở Đông Quan, Vương Thông đã cho phá vạc Phổ Minh để lấy đồng đúc vũ khí. Hiện nay tại chùa Phổ Minh chỉ còn lại bệ đá kê vạc khi xưa.
Vậy là trải qua thăng trầm của lịch sử, tứ đại khí gắn với bốn ngôi chùa danh tiếng đều chung số phận bị thất lạc và phá hủy. Tuy nhiên chúng vẫn hiện hữu trong các sự tích hiện thời, nhắc nhở con cháu Đại Việt về một thời cực thịnh của Phật giáo và những giá trị tự hào dân tộc mà chúng mang lại.

Tuệ Lâm (Tổng hợp)
spacer
do