Ấn triều Trần treo ở đâu cho đúng

Nhiều người xin được lộc ấn triều Trần nhưng sử dụng thế nào cho hợp cách, đúng phong thủy cũng như tâm linh thì ít người để ý. Thông thường mọi người hay đặt hay treo lên bàn thờ, như vậy là sai lầm. Nếu để lên bàn thờ thì sẽ là thờ ấn, chứ không phải thờ ông bà tổ tiên. Ngoài ra, để ấn lên bàn thờ sẽ không phù hợp theo tâm linh, cũng như trường khí.

1. Kiểm tra, xác định trường khí
Trường khí dương là trường khí tốt cho con người, giúp cơ thể minh mẫn, sảng khoái, làm việc hiệu quả hơn. Trường khí âm là trường khí xấu, do máy đo báo. Khi có trường khí âm, con người tiếp xúc nhiều sẽ hay đau đầu, tâm lý không ổn định, dễ cáu gắt, khó tập trung, hay nôn nóng… Từ đó ảnh hưởng xấu đến hành vi, học tập hay công việc.

Dán ấn ở chính Bắc, ở gần két để hỗ trợ tăng tài lộc. Ảnh: Mạnh Linh.
Ở phòng thí nghiệm, kiểm tra năng lượng trường khí của 10 mẫu ấn mới nhất cho thấy:
- Đặt nằm ngang trên bàn, năng lượng ở mức bình thường, trong đó 3 trường hợp âm, 7 trường hợp dương.
- Khi gấp lại, cả 10 ấn đều có trường khí âm rất mạnh.
- Dán lên tường, trường khí dương tăng cao, không có trường khí âm.
Kiểm tra thêm các mẫu khác, khi gấp đều có trường khí âm; nếu dán thẳng đều chuyển thành trường khí dương.
- Nếu đo trường khí, thông qua phổ màu cho thấy năng lượng thích hợp nhiều cho hệ miễn dịch và thần kinh, tăng cường sức sống. Đo bằng thiết bị điện từ trường, trường khí trung bình của ấn từ 400 đến 430 MHz. Điều này cho thấy ấn triều Trần có thể dùng trong phong thủy.

2. Cách dùng cụ thể
- Không nên: Không đặt lên bàn thờ, như đã nói ở trên. Không dán hướng vào nhà vệ sinh, dán trên tường nhà vệ sinh. Không gấp để trên bàn, càng không nên gấp để ví, để trên ôtô, vì có trường khí âm dễ gây ra sự cố khi đi lại.
- Nên: Dán trên tường hoặc đóng trong khung ảnh treo lên tường. Nếu không quan tâm đến phong thủy, bạn có thể treo gần vị trí làm việc. Đặt tại cơ quan hay phòng làm việc ở nhà đều được. Nên hướng vào mình, hay hướng vào tủ sách, hoặc có thể hướng ra cửa.
Nếu muốn sử dụng hiệu quả hơn theo phong thủy, tùy theo mục đích sử dụng mà dán ở các vị trí khác nhau, như năm 2015 để tăng tài lộc thì dán ấn ở chính Bắc, nếu để hỗ trợ nghề nghiệp, học hành dán ở Tây Bắc.

Nguyễn Mạnh Linh 
spacer

Lăng mộ 'ông nội vua nước Việt'

Khu di tích Gò Lăng (ở thôn Phú Lạc, xã Bình Thành, H.Tây Sơn, Bình Định) được các nhà nghiên cứu và người dân địa phương nghi ngờ là khu lăng mộ của nhà Tây Sơn.

Ông Mai Văn Châu bên lăng mộ ông Hồ Phi Tiễn đang bị hoang phế

spacer

Giải mã: Kho báu bị yểm bùa ở đảo Lý Sơn

Những dấu tích của vua Lê ở Lý Sơn (Quảng Ngãi) dù không nhiều nhưng có nhiều nét độc đáo, đặc biệt là nằm trong sự xâu chuỗi mối quan hệ với người Chăm. Có thể từng có nhiều người Chăm được tham gia đội quân thân cận của vua Lê. Cùng với đó là chuyện về kho báu bị yểm bùa của người Chăm (hay còn gọi là người Hời) vẫn còn như tươi mới trong tâm trí nhiều bậc cao niên nơi đây. Nhiều bí ẩn vẫn chưa được vén mở.

Núi Hòn Tươi, nơi được cho là chứa kho báu

spacer

Thực hư con sông làm đứt mạch đế vương và những lý giải dưới góc nhìn khoa học - Kỳ 3

Các tài liệu chép về phong thủy ngôi huyệt đế vương nhà Trần có đề cập tới một con sông bí ẩn. Tương truyền rằng, vì đào con sông này mà long mạch nơi đây bị phạm, dẫn đến sự sụp đổ của nhà Trần. Hiện nay, có ý kiến tranh cãi rằng, con sông này là do Hồ Quý Ly thực hiện để phá long mạch. Một ý kiến nữa lại cho rằng, việc này là do thầy phong thủy trả thù. Vậy thực hư câu chuyện này ra sao?

Cổng lớn đi vào khu lăng mộ các vua Trần tại Thái Bình ngày nay.

spacer

Vén màn bí ẩn ngôi huyệt đế vương và những dấu tích còn lại - kỳ 2

Giai thoại phát tích của nhà Trần vẫn là một câu chuyện chưa đến hồi ngã ngũ. Sử sách ghi chép rất rõ ràng các sự kiện, nhưng trong dân gian lại tồn tại quá nhiều thuyết khác nhau. Thậm chí, trong một tài liệu chính thống cũng ghi chép về những câu chuyện đầy huyền hoặc này.

Ba ngôi mộ lớn được cho là phần mộ của vua Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông tại Thái Bình ngày nay (ảnh tư liệu).
Vậy đằng sau vẻ bí ẩn của ngôi huyệt quý kia là gì? Chúng ta có thể thấy gì nếu soi chiếu dưới cái nhìn khoa học về hiện tượng phi khoa học này?

spacer

Giai thoại về ngôi huyệt phát tích nhà Trần và thực hư con sông làm đứt long mạch đế vương

Hiện nay, tư liệu còn lưu lại hai thuyết chính nói về ngôi huyệt phát tích nhà Trần. Một thuyết nói rằng, ngôi huyệt phát kết là do thầy phong thủy Tàu đặt đất. Thuyết nữa thì nói rằng ngôi huyệt do thầy phong thủy bí ẩn người Việt tìm thấy. Vậy thầy phong thủy nào trong số hai người trên mới đích thực là “chân nhân”, góp phần tạo nên một trong những vương triều lẫy lừng bậc nhất trong lịch sử?

Đền thờ các vua Trần tại Thái Bình ngày nay.

spacer

NHO GIÁO VIỆT NAM VÀ CÁC ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN

Chương 1
KHÁI QUÁT VÀ CÁC ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC TRIẾT HỌC NHO GIA

1.1      Khái quát nội dung tư tưởng đạo đức Nho giáo
Nho giáo được ra đời ở thời Xuân Thu do Khổng Tử  (551 – 479 TCN) sáng lập. Sau khi ông mất, tư tưởng của ông đã được các thế hệ học trò kế thừa. Đến thế kỷ II TCN, Nho giáo mới được giai cấp phong kiến sử dụng vào việc trị quốc. Ở Trung Quốc, Nho giáo đã tồn tại trong suốt thời phong kiến và là công cụ giúp các triều vua cai trị đất nước.

Khổng Tử và các học trò của ông đã thấy được sức mạnh và vai trò to lớn của đạo đức đối với xã hội. Vì vậy, nội dung quan trọng của Nho giáo là luận bàn về đạo đức.
Theo Khổng Tử, đạo là năm mối quan hệ xã hội cơ bản của con người được gọi là nhân luân, Mạnh Tử gọi là ngũ luân: vua - tôi, cha - con, chồng  - vợ, anh em, bạn bè. Trong đó, ba mối quan hệ cơ bản nhất, Đổng Trọng Thư gọi là Tam cương -  ba sợi dây ràng buộc con người từ trong quan hệ gia đình đến ngoài xã hội. Đức chính là các phẩm chất quan trọng nhất mà con người cần phải có để thực hiện tốt các mối quan hệ cơ bản trên. Khổng Tử nhấn mạnh “Tam đức” (nhân, trí, dũng); ở Mạnh Tử là “Tứ đức” (nhân, nghĩa, lễ, trí); Đổng Trọng Thư là “ngũ thường” (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín). Tam cương và ngũ thường được kết hợp và gọi tắt là đạo cương - thường.

            Cương - thường là nội dung cơ bản trong đạo làm người của Nho giáo, là nguyên tắc chi phối mọi suy nghĩ, hành động và là khuôn vàng thước ngọc để đánh giá phẩm hạnh của con người. Một mặt, đạo cương - thường góp phần điều chỉnh hành vi của con người, đưa con người vào khuôn phép theo chế độ lễ pháp của nhà Chu trước đây và các triều đại phong kiến sau này đặt ra. Cương - thường là nhân tố quan trọng làm cho xã hội ổn định theo thứ bậc, là cơ sở đảm bảo quyền thống trị của thiên tử. Mặt khác, đạo cương - thường với nội dung “quân xử thần tử, thần bất tử bất trung”, “phụ xử tử vong, tử bất vong bất hiếu” (vua xử bề tôi chết, bề tôi không chết là không có lòng trung, cha xử con chết, con không chết là không có hiếu) là sợi dây trói buộc con người, làm cho con người thụ động trong cả suy nghĩ và hành động. Tư tưởng này là lực cản sự phát triển của xã hội và là một trong những nguyên nhân làm cho xã hội phương Đông trì trệ.

spacer

Bí ẩn ngọn núi 'lạ' có 11 ngôi đền 'giữ kho báu'

Hàng chục năm qua người dân xóm Đông Sơn (huyện Đô Lương, Nghệ An) vẫn thường rỉ tai nhau về những câu chuyện bí ẩn xung quanh 11 ngôi đền “lạ” ở trên núi Đền.
Cho đến bây giờ người dân nơi đây vẫn chưa lý giải được những ngôi đền đó thờ vị thần nào và vì sao trên một ngọn núi nhỏ lại có tới 11 ngôi đền thiêng?!

Những ngôi đền giữ của?

Trong một lần ghé thăm những ngôi đền này, chúng tôi đã được nghe người dân kể lại rất nhiều giai thoại từng xảy ra tại vùng đất này. Họ kể rằng, người trồng cây lên địa phận đền, người trộm cành cây ở đền,... cũng bị “ngài” trừng phạt. Người phàm tục nếu “phạm” đến sự linh thiêng của đền phải dâng hương cầu khấn “ngài” mới chịu tha cho?

Những câu chuyện nhuốm màu sắc tâm linh quanh 11 ngôi đền khiến cho người dân nơi đây ai cũng phải sùng bái. Có nhiều gia đình còn xin đưa về trong khu vườn của mình để thờ cúng.
Được biết, núi Đền nằm trên địa bàn xóm Đông Sơn, xã Giang Sơn Đông có địa hình núi thoai thoải, diện tích khoảng 4 hecta. Theo truyền thuyết kể lại khu vực núi Đền được người Tàu chọn làm địa điểm chôn cất kho báu.

Hai trong số những ngôi đền trên núi  Trước kia do địa hình hoang vu, cây cối rậm rạp, ít người lui tới nên việc xuất hiện nhiều ngôi đền “lạ” khiến cho người dân rất ngạc nhiên. Bà Thái Thị Phấn (86 tuổi) cho biết: “Không biết ngôi đền này có từ bao giờ nhưng từ khi sinh ra, tôi đã thấy nó ở đó rồi. Nghe ông bà kể lại người Tàu xây dựng nó để giữ kho báu.
Trong 11 ngôi đền, ngôi đền Cả có diện tích và cấu trúc lớn nhất. Nó được thiết kế khá đặc biệt, có khắc những hoa văn khá tinh tế. Các ngôi đền còn lại đều có kết cấu y hệt nhau, cùng có hình dạng ô vuông chỉ có một gian, cao khoảng 2m, được làm bằng gỗ lim và gỗ mít, phía trên lợp ngói.
Mỗi ngôi đền đều chia làm hai tầng, tương tự như kiểu nhà sàn. Phần dưới chỉ có bốn cột dựng để chống đỡ. Phía trên được đóng ván kín 3 phía, phía trước cửa mở, bên trong đặt bài vị, bát hương, trong các đền nhỏ còn đặt hai thanh đao”. 

bí ẩn ngôi đền giữ kho báo
Hai trong số những ngôi đền trên núi 
Trước kia do địa hình hoang vu, cây cối rậm rạp, ít người lui tới nên việc xuất hiện nhiều ngôi đền “lạ” khiến cho người dân rất ngạc nhiên. Bà Thái Thị Phấn (86 tuổi) cho biết: “Không biết ngôi đền này có từ bao giờ nhưng từ khi sinh ra, tôi đã thấy nó ở đó rồi. Nghe ông bà kể lại người Tàu xây dựng nó để giữ kho báu. 

Trong 11 ngôi đền, ngôi đền Cả có diện tích và cấu trúc lớn nhất. Nó được thiết kế khá đặc biệt, có khắc những hoa văn khá tinh tế. Các ngôi đền còn lại đều có kết cấu y hệt nhau, cùng có hình dạng ô vuông chỉ có một gian, cao khoảng 2m, được làm bằng gỗ lim và gỗ mít, phía trên lợp ngói. 

Mỗi ngôi đền đều chia làm hai tầng, tương tự như kiểu nhà sàn. Phần dưới chỉ có bốn cột dựng để chống đỡ. Phía trên được đóng ván kín 3 phía, phía trước cửa mở, bên trong đặt bài vị, bát hương, trong các đền nhỏ còn đặt hai thanh đao”. 

Theo người xưa phỏng đoán, những ngôi đền do người thời xưa xây dựng lên để giữ kho báu. Trong các đền đều có một bức tượng hình con chó rất to được đúc bằng gỗ, rỗng bụng. Họ cho rằng chó là biểu tượng của “thần giữ của” hay còn gọi là “thần khuyển”. Khi đổ nước vào, nước sẽ phun ra từ miệng của con chó và đổ xuống đất trúng chỗ nào thì đó là điểm chôn vàng bạc châu báu(?). 

Trước kia, có một nhóm người đã đến đây làm lễ cúng bái mấy ngày liền. Sợ họ đào kho báu vàng bạc đi, người dân đã xua đuổi nhóm người này. Vì không lấy được của cải, họ đã tàn phá những ngôi đền. Do không có điều kiện nên người dân không tôn tạo nó nữa. Có một thời gian những ngôi đền này đã bị lãng quên vì không có ai sinh sống ở đó. 

Truyền thuyết bí ẩn và linh thiêng 

Khi người dân bắt đầu tràn vào khu vực núi Đền khai hoang làm nơi sinh sống và sản xuất, họ mới bắt đầu để ý những ngôi đền này. Điều kỳ lạ, những hộ dân đó chỉ sống được một vài năm thì phải di dời đi chỗ khác vì “ngài” không cho ở. Nghĩ rằng các ngôi đền này linh thiêng, những người đến sau kinh nghiệm hơn trước khi ở đều làm lễ thắp hương cúng vái thì làm ăn rất phát đạt. 

“Không biết đó là sự thật hay là một sự trùng hợp ngẫu nhiên. Những người nào “sùng” và làm lễ dâng hương thì “ngài” cho ở lại. Còn những hộ gia đình nào không làm lễ cầu khấn thì hàng đêm “ngài” báo mộng và trừng phạt, buộc phải đi khỏi làng”, bà Phấn cho biết thêm. 

Kể từ đó, người dân nơi đây ngày càng tin vào sự linh thiêng của núi Đền. Có người thấy được sự linh thiêng này đã xin đưa đền về trong nhà để “chăm sóc” và thờ phụng mong nhận được sự bình yên. Theo người dân kể lại, bà Đính - người dân xóm Đông Sơn cách đây mấy năm lên núi cải tạo đất để trồng cây củ đậu. 

Trong quá trình cuốc đất, bà phát hiện nhiều lớp gạch ngói mới biết đó là nền cũ của một trong những ngôi đền trước đây. Nghĩ người ta đã di dời đền đến chỗ khác, không ảnh hưởng gì nên bà vẫn tiếp tục bón phân và gieo hạt xuống. Tối về bà bỗng dưng đau bụng, đau đầu uống thuốc gì cũng không khỏi. Hai ngày sau, bà Đính được “ngài” báo mộng rằng bà đã mạo phạm đến đền thiêng. Người nhà của bà phải lên vườn dọn lớp phân đã bón và làm lễ dâng hương, bà mới khỏi bệnh. 

Không những thế, cách đây khoảng mười năm, có một thanh niên ở làng bên thấy cây sanh ở cạnh đền đẹp nên xin bà Đính về trồng nhưng không được bà đồng ý. Tối hôm đó, anh ta đã đến nhổ trộm đưa về nhà mình trồng. Sau đó, anh ta tự nhiên bị những biểu hiện đau bụng, đau đầu giống như bà Đính. Nghe người ta mách nước, thanh niên này đã mang nhành cây đến trả chỗ cũ và thắp hương cầu vái mới được yên ổn. 

“Một trong 11 ngôi đền đó được cha tôi đưa về nhà để thờ cúng. Ngôi đền đó rất linh thiêng. Có hôm do thời tiết quá nắng nóng nên cha tôi đã trải chiếu trước đền để nằm. Nhưng nằm được một tý, cha phải chạy đi. Khi hỏi vì sao cha không nằm ở đó nữa, cha tôi nói, vừa chợp mắt thì “ngài” đã hiện về đuổi đi(?). Không những thế, trước đây ông Hồng Định, người trong làng cũng bị ốm “thập tử nhất sinh”, đi khám khắp nơi không ra bệnh gì. Một hôm ông làm lễ thắp hương xin “ngài”, hôm sau lập tức khỏi ốm ngay và khỏe mạnh cho đến bây giờ”, bà Phấn kể về sự linh thiêng của ngôi đền. 

Vào tháng 4/2014, người dân trong vùng đã quyên góp được 40 triệu đồng để xây lại ngôi đền Cả. Nhiều người đi làm ăn xa xứ tin rằng nhờ có “ngài” ở ngôi đền phù hộ nên cuộc sống của họ khấm khá hơn. Và thật kỳ lạ, từ khi tu tạo lại đền, người dân trong làng không còn gặp điều xui xẻo nữa”, ông Hồ Xuân Lam (54 tuổi) - người trực tiếp xây dựng, tu tạo ngôi đền cho biết. 

Mặc dù, người dân tôn sùng và trùng tu lại nhưng trên thực tế họ không biết chính xác những ngôi đền này thờ cúng ai. Có người bảo rằng, đền thờ “thần khuyển” nhưng có người lại cho rằng thờ các thiên thần cung nữ. 

Là Trưởng ban thờ cúng 11 ngôi đền nhiều năm nay, ông Lê Hồng Châu cho biết: “Lúc trước, nghe người xưa phỏng đoán có thể thờ “thần khuyển” để giữ của. Nhưng gần đây, nhiều người dân trong làng lại cho rằng những ngôi đền này thờ Bạch Y công chúa. Vì vậy, trên thực tế chúng tôi cũng không biết chính xác ngôi đền này thờ phụng ai nhưng rất linh thiêng”. 

Truyền thuyết ghi lại rằng Bạch Y công chúa cũng chính là Mẫu Thượng ngàn – là Thiên thần đã được nhân dân thần hóa, lịch sử hóa, luôn trông nom, thuần hóa muôn loài chốn rừng xanh, luôn giúp đỡ, phù trợ các anh hùng dân tộc chống giặc ngoại xâm, bảo vệ biên cương bờ cõi. Họ thờ thần Bạch Y để cầu được phù trợ, được bình an, tránh được rủi ro, tai nạn và được ban phúc, ban lộc. Vì vậy, ở nhiều nơi, người dân lập điện thờ, thờ phụng bà. Ông Châu cho rằng, có thể ngày xưa người Tàu xây dựng để thờ bà. 
Ông Nguyễn Trọng Tuấn - Chủ tịch xã Giang Sơn Đông cho biết: “Những ngôi đền này đã tồn tại hàng trăm năm nay. Trước đây, không có ai thờ cúng gì cả nhưng thời gian gần đây người dân đến thắp hương cầu an ngày càng nhiều hơn. Mới đây, dân trong vùng có góp tiền xây dựng lại ngôi đền Cả. Hiện những ngôi đền này chưa đủ điều kiện để lập hồ sơ công nhận di sản văn hóa. Còn những câu chuyện mang tính tâm linh người dân bị “ngài” trừng phạt thì không ai có thể khẳng định được. Đó cũng có thể là sự trùng hợp ngẫu nhiên mà thôi”.
Nguồn: vtc. vn
spacer

Nhận xét về “An Nam đại quốc họa đồ”

Tên bản đồ này được ghi trân trọng bằng chữ Hán 安南大國畫圖 và bằng chữ quốc ngữ:An Nam đại quốc họa đồ và dịch ra tiếng LaTinh là Tabula Geographica imperii Anamitici.Nguyên bản họa đồ khá lớn, ngang 40, dọc 80cm, ấn hành theo cuốnNam Việt dương hiệp tự vị ( Dictionarium Anamitico – Latinum) mà tác giả là Giám mục Taberd, xuất bản tại Serampore (Ấn Độ) năm 1838.      Jean – Louis Tabrd (tên Việt là Từ) sinh tại Saint – Etienne. Quận Loire (Pháp) ngày 18/6/1794, gia nhập Hội Truyền giáo nước ngoài, trụ sở tai Paris (MEP), thụ phong linh mục ngày 27/7/1878. Ngày 7/11/1820, ông rời Pháp đến Đàng Trong – Việt Nam truyền giáo.
Tới nơi, Taberd nổ lực học tiếng Việt và viết các thứ chữ Hán, Nôm, quốc ngữ Latinh mà tư liệu học tập tốt nhất có lẽ là Tự vị Annam – Latinh (Dictionarium – Anamitico – Latinum) của Bá Đa Lộc (PieremPigneau de Beshaine) hoàn thành từ nă 1773. Taberd chủ yếu lo việc đào tạo các giáo sĩ bản quốc.

          Dưới thời Gia Long (1802 – 1819), việc truyền giáo không dễ dàng như dưới thời Nguyễn Ánh (1778 – 1802) vốn thân thiện với Giám mục Bá Đa Lộc (sinh năm 1771 – 1799), nhưng chưa bị cấm cách. Dưới thời Minh Mạng (1820 – 1840), đạo và tập trung các giáo sĩ ngoại quốc và Huế. Lê Văn Duyệt có thiện cảm với Công giáo nên cho hai thừa sai Resgesreau, Morronne được ở lại Nam Kỳ, còn hai thừa sai Gegelin, Odoric thì gởi ra Huế. Lúc ấy thừa sai Taberd đang ở tại chủng viện Phường Rượu (An Do, Quảng Trị) cũng tuân lệnh tới kinh. Đại Nam thực lục ghi: “Năm Đinh Hợi (1827), tháng 8, bổ người Tây dương là Phú Hoài Nhân (Taberd) làm Chánh thất phẩm thông dịch ở Ty Hành nhân; Tây Hoài Hoa (Gagelin), Tây Hoài Hóa (Odoric) làm Tùng thất phẩm thông dịch Ty Hành nhân. Mỗi tháng cấp cho mỗi người 20 quan tiền, 4 phương gạo lương, 1 phương gạo trắng. Sai phủ Thừa Thiên trông coi, cấm không cho ra ngoài dạy học trò để truyền giáo”. (1) Taberd bị cấm truyền giáo, nhưng có dịp hoàn thiện ngôn ngữ và bổ sung trình độ Việt Nam học. Những kiến thức chắc chắn về chính quyền hay sử địa nhận được từ triều đình trung ương sẽ được trình bày trong từ điển hay bản đồ sau này.
spacer

Con đê và vết hằn lên tính cách người Việt

Những di chỉ khảo cổ đã dẫn dắt các nhà khảo cổ học và dân tộc học từ lâu đến kết luận rằng có một sự diễn tiến liên tục từ văn hoá Phùng Nguyên, qua các văn hoá Đồng Đậu, Gò Mun đến văn hoá Đông Sơn, rằng chủ nhân văn hoá Đông Sơn chính là tổ tiên của người Việt ngày nay, và rằng “ Những văn hoá Tiền Đông Sơn cùng với văn hoá Đông Sơn hợp thành một hệ thống văn hoá... có thể gọi là hệ thống văn hoá sông Hồng. Trong bài viết này, dựa trên những thành tựu của nghiên cứu địa lý - địa chất vùng đồng bằng sông Hồng, những thành tựu và phát hiện khảo cổ học, những công trình nghiên cứu văn hoá tộc người đã được công bố, chúng tôi thử đưa ra một sự hình dung về một quá trình, tạm gọi là quá trình Đông tiến, của tổ tiên người Việt, chủ yếu dọc theo dòng chảy sông Hồng, từng bước từng bước trở thành chủ nhân của vùng châu thổ Bắc Bộ - cũng là vùng lãnh thổ giữ vai trò hạt nhân trong quá trình hình thành quốc gia - dân tộc. Tuy nhiên, đó lại cũng vẫn là một nhiệm vụ quá lớn, quá nghiêm túc, do vậy câu chuyện chủ yếu sẽ chỉ diễn ra xung quanh việc người Việt từ xưa tới nay đã trở nên thế nào “dọc theo những triền đê”.

spacer
do